Thứ Tư, 13 tháng 3, 2019

Tổng giám đốc PVN xin từ chức


Tổng giám đốc PVN xin từ chức
Đơn xin từ chức của ông Nguyễn Vũ Trường Sơn phải được Uỷ ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp và Thủ tướng xem xét, quyết định.

Theo nguồn tin riêng của VnExpress, ông Nguyễn Vũ Trường Sơn - Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã gửi đơn xin từ chức tới Hội đồng thành viên tập đoàn này. Lá đơn của ông Sơn gửi từ nhiều ngày trước, nhưng tới hôm qua (12/3) Hội đồng thành viên PVN mới họp và đồng ý xét đơn của ông Sơn.
Theo trình tự thủ tục, việc ông Sơn có được thôi chức vụ Tổng giám đốc PVN hay không cần sự chấp thuận của cơ quan chủ quản - Uỷ ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp và Thủ tướng xem xét, quyết định.
Ông Nguyễn Vũ Trường Sơn làm việc trong ngành dầu khí từ năm 1987 và trải qua nhiều chức vụ quan trọng tại các công ty thành viên thuộc PVN, như Phó tổng giám đốc Vietsovpetro kiêm Giám đốc Xí nghiệp Khai thác Dầu khí, Giám đốc, Phó bí thư Đảng ủy Xí nghiệp Khai thác Dầu khí thuộc Vietsovpetro...
Tháng 7/2009 ông Sơn giữ chức Tổng giám đốc Tổng công ty Thăm dò khai thác dầu khí (PVEP).  Đến tháng 2/2012, ông Sơn làm Phó tổng giám đốc PVN trong 4 năm. Tháng 3/2016 ông được bổ nhiệm chức Tổng giám đốc PVN, thành viên Hội đồng thành viên và giữ chức vụ này từ đó đến nay.
Khi ông Sơn làm Tổng giám đốc PVEP, doanh nghiệp này triển khai nhiều dự án đầu tư ra nước ngoài, một trong số đó là dự án khai thác dầu nặng Junin 2 tại Venezuela. Theo giấy chứng nhận đầu tư được Bộ Kế hoạch & Đầu tư cấp năm 2012, giai đoạn 1 (2010-2015) PVEP rót khoảng 1,82 tỷ USD vào dự án này. Theo tính toán ban đầu, công suất khai thác giai đoạn 1 của dự án đạt 50.000 thùng dầu một ngày, giai đoạn 2 nâng lên 200.000 thùng dầu một ngày.
Lô Junin 2 có tổng diện tích khai thác 522,84 km2 trên đất liền thuộc các huyện Leonardo Infante, El Socorr, Santa Maria, bang Guarico, Venezuela. Để thực hiện dự án, PVEP đã góp 40% vốn cùng với Công ty dầu khí quốc gia Venezuela lập Công ty liên doanh PetroMacareo. Tuy nhiên, dự án không có tiến triển và tháng 12/2013 Thủ tướng đã chỉ đạo PVEP tạm dừng đầu tư vào dự án.
Kỳ Duyên


Hoạn lộ của Tổng Giám đốc PVN Nguyễn Vũ Trường Sơn trước khi nộp đơn xin từ chức
Phạm Duy / Thứ Năm, ngày 14/3/2019 - 07:05
VietTimes -- Ông Nguyễn Vũ Trường Sơn, Tổng Giám đốc PVN, gia nhập ngành dầu khí kể từ năm 1987 và từng đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo cấp cao tại tập đoàn này.
Ngày 13/3/2019, báo chí trong nước đồng loạt đưa tin về việc Hội đồng thành viên Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) tổ chức cuộc họp để xem xét đơn xin từ chức của Tổng Giám đốc PVN là ông Nguyễn Vũ Trường Sơn.
Theo đó, ông Sơn đã có đơn gửi Hội đồng thành viên PVN từ nhiều ngày trước. Tuy nhiên, đến ngày 12/3/2019, Hội đồng thành viên PVN mới thực hiện họp lần cuối để xem xét trường hợp này và chấp nhận đề nghị xin từ chức của ông Sơn.
Bên cạnh đó, theo trình tự thủ tục, việc ông Sơn thôi chức vụ Tổng giám đốc PVN sẽ cần đến sự chấp thuận của cơ quan chủ quản là Ủy ban quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp (CMSC) và Thủ tướng xem xét, quyết định.
Lý do xin từ chức của ông Nguyễn Vũ Trường Sơn chưa được tiết lộ cụ thể.
Được biết, ông Nguyễn Vũ Trường Sơn, sinh năm 1962, có trình độ Kỹ sư Công nghệ Khai thác Dầu khí, Đại học Hóa Dầu Bacu (Liên Xô) và Thạc sỹ Thiết kế công nghệ Hệ thống, Đại học RMIT (Úc).
Gia nhập ngành dầu khí từ năm 1987, ông Sơn đã có nhiều năm làm việc tại Xí nghiệp Khai thác Dầu khí Vietsovpetro, trải qua các vị trí như: Đốc công khai thác, Đội phó khai thác, Phó phòng Kỹ thuật Sản xuất, Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc…
Kể từ tháng 7/2009, ông được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thăm dò Khai thác dầu khí (PVEP).
Tới tháng 2/2012, ông Nguyễn Vũ Trường Sơn được giao giữ chức vụ Phó Tổng Giám đốc PVN. Sau hơn 4 năm, kể từ tháng 3/2016 tới nay, ông Sơn tiếp tục được bổ nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo cấp cao khác của PVN như: Tổng Giám đốc, Thành viên Hội đồng thành viên (HĐTV).
Ngoài ra, giai đoạn từ tháng 3/2017 - 12/2017, ông Sơn còn được phân công đảm nhiệm vai trò Thành viên phụ trách HĐTV trong quãng thời gian PVN chưa có nhân sự chính thức giữ vị trí Chủ tịch HĐTV.
Như VietTimes đã từng đề cập, vào cuối tháng 1/2019, ông Sơn đã ký quyết định ủy quyền cho ông Nguyễn Xuân Hòa (Phó Tổng Giám đốc PVN) được thực hiện phê duyệt, ký các chứng từ chuyển tiền thuộc thẩm quyền của Tổng Giám đốc.
Tuy nhiên, Ban pháp chế và Kiểm tra PVN sau đó đã gửi văn bản tới ông Sơn lưu ý về một số nội dung trong quyết định này và đề nghị xem xét sửa đổi cho phù hợp với quy định của pháp luật./.


Siêu ủy ban vẫn chưa xét đơn từ chức của tổng giám đốc PVN
TTO - Vụ Tổ chức cán bộ của Ủy ban Vốn nhà nước vẫn chưa có báo cáo và đề xuất Ban cán sự Đảng về việc xử lý đơn từ chức của ông Nguyễn Vũ Trường Sơn, tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN).
Xác nhận với Tuổi Trẻ Online ngày 27-3, một lãnh đạo của Ủy ban Vốn nhà nước cho biết đến nay Ban cán sự Đảng của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước vẫn chưa họp để xem xét đơn xin từ chức của ông Nguyễn Vũ Trường Sơn. Do đó, cơ quan này vẫn chưa quyết định việc có miễn nhiệm chức vụ của tổng giám đốc PVN hay không.
Đại diện của cơ quan được mệnh danh là "siêu ủy ban" này cho biết theo quy trình, sau khi nhận đơn thì mới tham mưu, báo cáo và đề xuất Ban cán sự Đảng của ủy ban để họp, xem xét quyết định.
"Việc miễn nhiệm chức danh với ông Sơn sẽ được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ", vị này cho hay.
Trước đó, ông Nguyễn Vũ Trường Sơn đã có đơn xin từ chức và ngày 12-3 Hội đồng thành viên PVN đã họp và xem xét đơn từ chức của ông Sơn, chấp thuận đơn của ông này và trình cấp thẩm quyền quyết định.
Hiện ông Sơn vẫn làm việc bình thường tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.
Ông Nguyễn Vũ Trường Sơn sinh năm 1962, có trình độ thạc sĩ công nghệ hệ thống.
Ông Sơn làm việc trong ngành dầu khí suốt 30 năm, từng trải qua nhiều vị trí khác nhau ở Liên doanh Dầu khí Việt Xô (Vietsovpetro) như phó tổng giám đốc, phó bí thư Đảng ủy Xí nghiệp khai thác dầu khí thuộc Vietsovpetro.
Ông Sơn đảm nhiệm chức vụ tổng giám đốc Tổng công ty Thăm dò khai thác đầu khí (PVEP) năm 2009. Trong giai đoạn này, PVEP đầu tư nhiều dự án ra nước ngoài, trong đó có những dự án không hiệu quả như khai thác dầu nặng Junin 2 tại Venezuela.
Dự án này PVEP góp 40% vốn cùng Công ty dầu khí Quốc gia Venezuela thành lập liên doanh PetroMacareo. Nhưng do không có triển vọng, tháng 12 - 2013 Thủ tướng đã chỉ đạo PVEP tạm dừng đầu tư dự án.
Đến năm 2012 ông Sơn làm phó tổng giám đốc PVN trong 4 năm sau đó đảm nhiệm chức tổng giám đốc PVN từ năm 2016.
Năm 2017 ông kiêm nhiệm chức danh chủ tịch Hội đồng thành viên PVN khi ông Nguyễn Quốc Khánh mất chức. Sau khi ghế nóng PVN chính thức do ông Trần Sỹ Thanh đảm nhiệm, ông Sơn thôi việc kiêm nhiệm.
Theo quy định, hiện PVN đã được Bộ Công thương chuyển giao về Ủy ban quản lý vốn nhà nước, nên việc có được thôi chức vụ tổng giám đốc PVN sẽ do cơ quan chủ quản là Ủy ban vốn và Thủ tướng xem xét, quyết định.
https://tuoitre.vn/sieu-uy-ban-van-chua-xet-don-tu-chuc-cua-tong-giam-doc-pvn-20190327114134909.htm?fbclid=IwAR0AvM7kGGJYItxnS9c2c7dIYEeJacZjC-18jVlnhUnan5dK9CenxTucdxA


Dự án dầu khí tỉ đô ở Venezuela: Mập mờ khoản "hoa hồng" 584 triệu USD
16/03/2019 09:55
(NLĐO)- Quá trình thẩm định dự án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phát hiện số tiền 584 triệu USD "phí tham gia hợp đồng" không được đưa vào tổng mức đầu tư dự án, sau đó đã yêu cầu PVN bổ sung.
Tổng số tiền "phí tham gia hợp đồng" (còn gọi là Bonus - phí hoa hồng) trong dự án dự án đầu tư liên doanh phát triển khai thác và nâng cấp dầu khí lô Junin 2 tại Venezuela của Tổng Công ty Thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) lên tới 584 triệu USD (tương đương 9.928 tỉ đồng). Số tiền "phí tham gia hợp đồng" mà PVEP đã chuyển cho phía Venezuela đến thời điểm này là 442 triệu USD.
Theo tìm hiểu của Báo Người Lao Động, trong quá trình thẩm định, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) phát hiện khoản "phí tham gia hợp đồng" 584 triệu USD không được đưa vào tổng mức đầu tư dự án. Bộ này đã yêu cầu PVN bổ sung số tiền lớn này vào tổng mức đầu tư, đồng thời đề nghị trình Quốc hội xem xét, thông qua chủ trương vì dự án thuộc danh mục quyết định của Quốc hội.
Trao đổi với Báo Người Lao Động, một nguyên lãnh đạo Bộ KH-ĐT cho biết chưa có dự án nào mà số tiền "Bonus" lại lớn như vậy. Theo ông, thông lệ quốc tế khi thực hiện các dự án dầu khí, đều có "phí tham gia hợp đồng" nhưng không lớn như vậy. Đồng thời, các điều khoản về thanh toán số phí này rất khắt khe để đảm bảo tính hiệu quả và ngăn chặn rủi ro đối với nhà đầu tư.
Là người từng tham gia thẩm định dự án Junin 2, ông cho biết ban đầu số tiền 584 triệu USD không được đưa vào hồ sơ xin cấp phép đầu tư dự án. "Sau các cuộc làm việc, thẩm định về dự án, chúng tôi được thông báo về số tiền 584 triệu USD "phí tham gia hợp đồng", còn tổng mức đầu tư dự án không đề cập đến số tiền lớn này. Do vậy, chúng tôi đã yêu cầu phía PVN phải đưa số tiền này vào tổng mức đầu tư"- vị nguyên lãnh đạo Bộ KH-ĐT cho biết.
Theo đó, ban đầu tổng mức đầu tư của dự án chỉ hơn 1,241 tỉ USD, sau khi cộng thêm khoản "bonus" đã nâng lên thành 1,825 tỉ USD. Bộ KH-ĐT sau đó đã thống nhất với các bộ, ngành ghi tổng mức đầu tư đầy đủ là 1,825 tỉ USD để phản ánh thực chất lượng vốn đầu tư ra nước ngoài, thuận lợi cho việc triển khai dự án và theo dõi quyết toán các nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm về tài chính của chủ đầu tư nhà nước.
Theo tìm hiểu của phóng viên, PVEP đã hoàn thành việc đóng 442 triệu USD phí tham gia hợp đồng đợt 1 và 2. Phí tham gia hợp đồng đợt 3 là 142 triệu đồng đang được tạm dừng thanh toán.
Nói về việc thanh toán "phí tham gia hợp đồng" này, vị nguyên lãnh đạo Bộ KH-ĐT cho rằng có nhiều điểm bất thường, bởi phí này phải khi đàm phải hợp đồng phải có lộ trình thanh toán khắt khe để ngăn ngừa rủi ro khi đầu tư. Vị này cho biết thêm theo thông lệ quốc tế về thanh toán "phí tham gia hợp đồng" các dự án dầu khí, số tiền này không được chuyển 1 lần mà phải chia ra nhiều lần.
Cụ thể, khi triển khai công tác địa vật lý chuyển 5%; khi thực hiện giếng khoan 1 chuyển 5%, trong trường hợp gặp dầu có thể chuyển thêm 10%; khi mỏ vận hành khai thác thương mại thì chuyển đủ 100% để đảm bảo hiệu quả cho nhà đầu tư.
Ông phải thốt lên rằng PVN đã "đàm phán hớ hênh" khi thanh toán 3 đợt, trong đó 2 đợt đầu đã thanh toán tới 442 triệu USD (chiếm 75%). Số tiền này đã chuyển cho phía đối tác nhưng đến nay dự án vẫn chưa thu được giọt dầu nào.
PVEP đầu tư hàng tỉ đô ra nước ngoài
Tham gia góp ý kiến về việc đầu tư dự án Junin 2 ở Venezuela, Ngân hàng Nhà nước thời điểm năm 2010 cũng cảnh báo “Hiện PVEP đang triển khai khá nhiều dự án đầu tư ở nước ngoài, với tổng số vốn đầu tư lên tới hàng tỉ USD”. Do đó, Ngân hàng Nhà nước đề nghị lưu ý chủ đầu tư làm rõ phương án sử dụng nguồn vốn tự có phân bổ cho các dự án đảm bảo tính hiệu quả.
https://nld.com.vn/thoi-su/du-an-dau-khi-ti-do-o-venezuela-map-mo-khoan-hoa-hong-584-trieu-usd-20190316085350035.htm


Sự thật về dự án Junin 2 của PVN
Những ngày này, dư luận lại rất xôn xao khi cơ quan điều tra của Bộ Công an yêu cầu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cung cấp hồ sơ, tài liệu về dự án Junin 2 để xem xét.
Thiết nghĩ đây là một việc hết sức bình thường. Bởi lẽ một dự án khi đã có những dư luận về việc này việc khác thì các cơ quan bảo vệ pháp luật phải vào cuộc là chuyện đương nhiên. Và thực sự, thâm tâm của nhiều người dầu khí hiểu biết về dự án này cũng mong muốn cơ quan điều tra làm cho rõ để trả lời cho “bàn dân thiên hạ” biết toàn bộ sự thật về dự án. Còn nếu cứ để như thế này, nay có dư luận, mai có dư luận rồi những câu hỏi vu vơ đặt ra ở chỗ này chỗ khác, giống như con muỗi chui vào trong màn, cứ vo ve khiến người ta ngủ không yên giấc.
Tôi đã đọc rất kỹ một số bài báo và những bài viết trên mạng xã hội về dự án Junin 2; thực sự tôi thấy rất buồn. Bởi lẽ những người viết các bài này chẳng hiểu biết gì về dự án Junin 2 mà viết theo kiểu “thầy bói xem voi” và suy diễn kèm theo những lời bình luận rất ác ý.
Họ không được tiếp cận với tài liệu cơ bản của dự án; không gặp những người trong cuộc mà chỉ nghe nói, Đã thế không ít người còn cao giọng phán xét kiểu như “ cha” người ta, và quái gở hơn nữa là lại còn mang tư tưởng ngày hôm nay, phán xét cho việc từ chục năm trước…Không những thế, họ cố tình hiểu sai sự thật và bộc lộ sự thiếu hiếu biết, thiếu kiến thức về luật pháp quốc tế…
Một ví dụ thế này để bạn đọc hiểu : Nhiều người cứ gào lên là “ làm thất thoát ngân sách nhà nước”…Nhưng họ không biết Dự án Juni 2 hoàn toàn không dùng Ngân sách Nhà nước. Khái niệm “ vốn ngân sách Nhà nước “ với khái niệm “ Vốn Nhà nước ngoài Ngân sách “ là khác nhau rất xa…
Nói trước như vậy, để rất mong bạn đọc nên thận trọng khi đọc những bài báo viết về dự Juni 2.
( Tôi sẽ có bài phân tích riêng về các việc này)
Vậy tựu chung, các bài viết đó tập trung vào những vấn đề gì?
Thứ nhất, họ cho rằng dự án này đã được quyết định một cách vội vàng, duy ý chí và phớt lờ sự phê duyệt của Quốc hội.
Thứ hai, họ cho rằng việc chuyển tiền thưởng cho bên Venezuela là sai ”?
Thứ ba, họ cho rằng cả Bộ Chính trị khóa trước, khóa trước nữa là “kém”, “liều lĩnh” và cho PVN ký với Công ty Dầu khí Quốc gia Venezuela (PVDSA) là vô nguyên tắc. Thậm chí họ cho rằng không lường trước được tình hình, không đánh giá được chính phủ Venezuela ngày ấy ...
Vì vậy, tôi thấy cần phải lên tiếng về dự án này một cách minh bạch và sòng phẳng. Bởi tôi có thể tự hào rằng tôi là nhà báo Việt Nam duy nhất có sự hiểu biết tổng thể về dự án này. Tôi đã sang Venezuela 3 lần và từ khi là phóng viên báo An ninh thế giới. Tôi đã được sang Venezuela, chứng kiến những cuộc đàm phán, được đọc hết hồ sơ tài liệu, được gặp những người có trách nhiệm về dự án để nghe các anh nói về dự án, cả mặt thuận lợi và không thuận lợi. Tôi đã dự lễ ký dự án này, rồi đã xuống tận Lô 39 ở Juni 2 để chứng kiến dòng dầu đầu tiên.
( Duy nhất cái tôi thiếu là không được dự họp Bộ Chính trị ngày ấy khi quyết định về dự án! ???)
Vì vậy, tôi thấy cần phải viết lại một cách tổng thể dự án này để mọi người hiểu và tránh những suy diễn, tránh cách hiểu sai, và đừng có lợi dụng để bôi nhọ người khác.
Bài 1:
Tại sao có Dự án Juni 2?
Vào những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà khoa học của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã dự báo rằng, đến năm 2020 đến 2030, trữ lượng dầu ở mỏ Bạch Hổ sẽ bị cạn kiệt bởi chúng ta khai thác đã lâu; hơn nữa trữ lượng dầu ở vùng mỏ Bạch Hổ và vùng lân cận không phải là lớn. Với cách khai thác như của Việt Nam, thì mặc dù đã đạt hiệu quả rất cao về thu hồi dầu ( gần như là cao nhất thế giới), đã rất tằn tiện tiết kiệm, nhưng từ năm 2020 trở đi sẽ suy giảm ít nhất mỗi năm từ 2,5 - 3,5 triệu tấn. Và như vậy, đến năm 2030, về cơ bản chúng ta sẽ hết dầu ở khu vực mỏ Bạch Hổ. ( Cho tới nay, những dự báo đó là hoàn toàn chính xác)
Điều này đặt ra cho ngành Dầu khí Việt Nam bài toán nan giải, đó là phải gia tăng trữ lượng bù vào. Trong nghề khai thác dầu khí, cứ 1 thùng dầu hút lên được thì ngay lập tức phải có từ 1,5 - 2 thùng dầu khác bù vào thì mới hoạt động bình thường. Nghĩa là có của ăn, nhưng của để, của dự trữ phải nhiều gấp đôi thì mới đảm bảo công việc khai thác dầu khí bền vững.
Tiềm năng dầu khí ở vùng nước sâu xa bờ là có, nhưng để thăm dò khai thác được thì cần số vốn khổng lồ và kèm theo đó là sự rủi ro cực kỳ lớn. Đó là chưa kể đến những yếu tố về địa chính trị, về kỹ thuật... Chính vì vậy, Tổng Công ty Dầu khí ngày ấy (bây giờ là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam) phải vươn ra đầu tư ở nước ngoài.
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã trúng thầu và trở thành nhà điều hành ở mỏ Bir Seba trên sa mạc Sahara ở Algeri. Sau hơn 10 năm lao động vô cùng gian khổ, chịu vô vàn hiểm nguy và tưởng chứng có lúc dự án ở Bir Seba sụp đổ hoàn toàn, hàng trăm triệu USD đổ vào tìm kiếm thăm dò sẽ mất trắng; thì may mắn đã đến với Tập đoàn là chúng ta đã tìm ra dầu với trữ lượng khá lớn. Và hiện nay, mỏ Bir Seba đang cho hiệu quả kinh tế rất cao.
Một dự án ra nước ngoài nữa là liên doanh với Nga là khai thác dầu ở mỏ Nhenhetxky ở vùng cực Bắc nước Nga. Có được dự án này, phải nói đó là sự ưu ái của Chính phủ Nga và của Tập đoàn Rosneft đối với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nói riêng và với nhân dân Việt Nam nói chung. Và một điều chỉ những người trong cuộc mới biết, đó là phía Nga rất yêu quý nhiều vị lãnh đạo của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã từng học và làm việc ở nước Nga. Dự án này hiện nay đang cho hiệu quả kinh tế rất cao. Một số dự án khác như liên doanh với Petronas khai thác khí và dầu ở vùng chồng lấn trên biển Đông, có dự án cho hiệu quả kinh tế tốt, có dự án chưa đạt như kỳ vọng.
Vậy tại sao phải sang tận Venezuela ở Nam Mỹ để tìm kiếm cơ hội đầu tư khai thác dầu khí tại đây?
( Tiếp theo kỳ trước)
Sự thật về dự án Junin 2 của PVN
Bài 2:
Trước hết, phải nói rằng Venezuela có tiềm năng dầu mỏ vào loại lớn nhất thế giới. Vào những năm 2000 – 2005, chính quyền Venezuela dưới sự lãnh đạo của ông Hugo Chavez cũng là điểm sáng trên thế giới. Đặc biệt, Chính phủ và nhân dân Venezuela có cảm tình đặc biệt, yêu quý Việt Nam với sự trong sáng hiếm có. Nghe nói ông Hugo Chavez đã nhận Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết làm anh nuôi, coi Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp là thần tượng, là tấm gương để ông học theo. Không một ai vào thời điểm đó nghi ngờ về tình cảm của lãnh đạo, người dân Venezuela đối với Việt Nam.
Vào những lúc nhân dân Việt Nam khó khăn nhất thì ở bên kia bán cầu, bao giờ cũng có nhân dân Venezuela và Cuba bên cạnh.
Bây giờ, bất luận thời thế biến đổi thế nào, mà ta quên đi sự giúp đỡ, ủng hộ về tinh thần và vật chất ấy thì đó bội bạc, vô ơn.
Sau này, mối quan hệ giữa Việt Nam và Venezuela càng bền chặt bởi Tổng thống Hugo Chavez và Tổng bí thư Nông Đức Mạnh.
Ngày 01/8/2006, TT Hugo Chavez đến Hà Nội thăm chính thức Việt Nam. Biết Venezuela là một cường quốc về năng lượng, nên lãnh đạo hai bên đặt vấn đề hợp tác đầu tư. Năm 2006 hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ.
Một năm sau, ngày 01/6/2007, TBT Nông Đức Mạnh đến Caracas và hai bên đã ký kết Thỏa thuận hợp tác trên 6 lĩnh vực của dầu khí là : Nghiên cứu, tìm kiếm vùng lòng hồ Macabro; Thăm dò khai thác dầu ngoài khơi, Cung cấp dầu thô cho nhà máy lọc hóa dầu Long Sơn trong tương lai; Cung cấp dầu dài hạn cho VN; và đóng tầu…
Nhờ sự cố gắng từ lãnh đạo cao nhất của hai nước, với sự nỗ lực triển khai Thỏa thuận Nghiên cứu chung và đàm phán ký PSC, ngày 29/6/2010 PVN ủy quyền cho PVEP ký với CVP S.A. (đơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Venezuela - PDVSA) thành lập Công ty Liên doanh Petromacareo với phần tham gia của PVEP là 40%.
Tổng mức Đầu tư là 1,825 tỷ USD, trong đó đã bao gồm 584 triệu USD tiền hoa hồng chữ ký (signature bonus - là một khoản tiền nộp cho nước chủ nhà theo thông lệ quốc tế.)
( Về chuyện “hoa hồng chữ ký” này, tôi sẽ có bài phân tích và giải thích kỹ)

Cũng vào thời điểm năm 2007, hàng loạt các tập đoàn dầu mỏ lớn của Trung Quốc, Nga đã không tiếc tiền của đổ vào đây để có những liên doanh với PDVSA . Với những thông tin tôi có được, có thể chưa thật chính xác, nhưng Rosneft của Nga đổ vào lô Juni-6 hơn 10 tỷ USD và lỗ thê thảm, Trung Quốc cũng đổ vào 5,5 tỷ USD. Bên cạnh đó, chính phủ Nga, Trung Quốc đã lobby để giành quyền khai thác dầu ở đây với tất cả sức mạnh của mình bằng các khoản viện trợ không hoàn lại, cung cấp vũ khí giá rẻ...
Còn Việt Nam, không có lấy một xu biếu xén ngoài tình cảm của Hugo Chavez với lãnh đạo nước mình!
Và để hiện thực hóa chủ trương hợp tác này, chính phủ Venezuela dành cho Việt Nam lô Juni 2.
Như vậy, có thể nói rằng : Dự án Juni 2, là biểu hiện của quan hệ hữu nghị tốt đẹp của hai nước và có ý nghĩa chính trị rất to lớn.
Bây giờ những kẻ không biết gì về quá trình thực hiện dự án này lại bới móc, cho là từ ông Đinh La Thăng, và một lãnh đạo dầu khí khác…Đó thực sự là những bình luận độc ác, vô lương. Vào ngày ấy, ông Thăng, dù là UV T.U Đảng, là Chủ tịch HĐTV Tập đoàn, nhưng chỉ là “ bé tý”…
Năm 2010, việc thực hiện liên doanh được hoàn thành. Lễ ký kết được diễn ra trong căn phòng nhỏ, thấp lè tè, nhưng không khí rất vui, ấm áp và dĩ nhiên là hữu nghị.
Tôi không thể quên được trong một buổi găp gỡ với đoàn kinh tế của Việt Nam, Tổng thống Hugo Chavez đã nói rằng nếu để Việt Nam thiếu nhiên liệu thì ông là người có lỗi. Vì vậy, phải thành lập liên doanh thật nhanh, phải đưa giàn khoan vào khai thác thật nhanh và phải thành lập một đội tàu vận tải để chở dầu vượt Thái Bình Dương cung cấp cho các nhà máy lọc dầu ở Việt Nam.
Vào thời điểm này, không ai có thể nghi ngờ tính khả thi của dự án cũng như sự hợp tác quốc tế hết sức trong sáng giữa Việt Nam và Venezuela ở lô Junin 2. Hơn nữa giá dầu thế giới đang ở mức kỷ lục - khoảng hơn 100 USD/thùng. Vì thế một số quốc gia có dầu siêu nặng đã phải tính khai thác trở lại những mỏ dầu siêu nặng.
Dầu thô ở Junin 2 cũng là loại dầu siêu nặng nên giá thành khai thác sẽ khá cao so với các loại dầu ngọt nhẹ khác. Muốn khai thác được dầu ở đây thì sau khi khoan, phải “tống” xuống giếng dầu một máy bơm (giống kiểu máy bơm tõm ngày xưa thời bao cấp) để hút dầu lên, bởi dầu quá nặng, không tự chảy được. Rồi để vận chuyển được dầu này theo đường ống thì phải pha loãng ra và phải mất một lượng dầu ngọt nhẹ khác đổ vào. Vì thế, giá thành một thùng dầu khai thác ở Juni2 là 44 USD và với giá thành ở giá dầu thế giới ở mức 80 USD trở lên thì khai thác dầu ở Junin 2 có lãi. Và theo tôi biết, với tính toán ở mức giá dầu thấp, chúng ta có lãi ít nhất 12%.
Sau lễ ký vào tháng 10/2010, việc triển khai được gấp rút thực hiện. Các cán bộ kỹ thuật của PVEP đã làm được những việc cực kỳ lớn như khảo sát địa chấn hàng trăm cây số vuông, tiến hành khoan thăm dò và giữa năm 2012 đã có dòng dầu. Đội ngũ kỹ thuật của PVEP đã làm điều không tưởng đó là, mũi khoan xuống khoảng 1000m đã cho chạy khoan nghiêng; đây là chuyện chưa từng có trong nghề khoan thế giới.
Mọi việc diễn ra tưởng chừng suôn sẻ thì “đùng một cái”, tổng thống Hugo Chavez mất. Sau đó, nền kinh tế Venezuela lâm vào tình trạng khủng hoảng, lạm phát tăng nhanh như ngựa chạy, trật tự trị an rất xấu, nạn cướp giật diễn ra như cơm bữa. Và một đòn khủng khiếp nữa giáng vào ngành khai thác dầu thế giới, đó là giá dầu giảm một cách tiêu cực.
Chính vì thế, từ năm 2013, PVN đã phải ngừng mọi công việc ở đây. Vậy tổng số tiền chúng ta đưa vào dự án này là bao nhiêu? Một số tờ báo nói Việt Nam đổ vào hàng tỷ USD, thậm chí có tờ nói 1,8 tỷ USD. Đây là thông tin hết sức bậy bạ! Trên hợp đồng, Việt Nam sẽ đầu tư 1,84 tỷ USD, nhưng chúng ta mới chuyển vào khoảng hơn 600 triệu USD bao gôm tiền chi phí cho dự án, tiền phí dịch vụ và một số loại phí khác phải nộp theo Luật dầu khí Venezuela. Đây là một con số lớn đối với Việt Nam nhưng với ngành khai thác dầu khí trên thế giới, con số này chẳng là gì cả. Bởi lẽ nghề khai thác dầu khí là nghề siêu lợi nhuận; nhưng cũng là nghề siêu rủi ro.
Ở Việt Nam, nếu tính các tập đoàn dầu khí trên thế giới mất tiền thăm dò mà không được lít dầu nào thì phải là..." vô biên"?. Có thể kể ra những tên tuổi lớn đã mất tiền tìm kiếm, thăm dò ở Việt Nam, gồm có :BP của Anh mất 600 triệu USD; Total của Pháp mất 290 triệu USD; Shell mất 190 triệu USD; BHP mất 420 triệu USD...Còn những công ty mất dăm bảy chục triệu USD thì phải là hàng chục.
Ngành dầu khí có 3 rủi ro lớn mà không ai lường trước được là:
Thứ nhất, rủi ro về biến động chính trị, do chiến tranh, thiên tai mà điển hình là rủi ro về chính trị như ở Venezuela.
Thứ hai, rủi ro về kỹ thuật - đây là loại rủi ro hay gặp nhất. Tỷ lệ thành công khi khoan thăm dò - may mắn ra là 20%. Nghĩa là cứ 10 mũi khoan thì may ra có 2 mũi tìm thấy dầu; và cứ 10 mũi khoan tìm thấy dầu thì may ra có 3 - 4 giếng cho dòng dầu thương mại. Chính vì thế, trên thế giới, các tập đoàn, công ty khai thác dầu khí thường phải liên doanh với nhau mà mục đích lớn nhất là cùng nhau chia sẻ rủi ro.
Thứ ba, rủi ro về giá dầu. Trên thế giới, giá dầu không tuân theo một quy luật nào cả và không ai có thể nói rằng ngày mai, tháng sau, giá dầu thế giới là bao nhiêu. Việc giá dầu thế giới tăng - giảm có ảnh hưởng toàn diện đến việc thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí trên toàn thế giới. Chúng ta thấy rất rõ, từ năm 2015, giá dầu thế giới giảm xuống mức độ kỷ lục, có thời điểm chỉ 28 USD/thùng. Hầu hết các công ty dầu khí phải dừng, giãn tiến độ, một số công ty dừng hoạt động và ngay tại Trung Đông đã có công ty phải phá sản.
3 rủi ro này hoàn toàn mang tính khách quan. Nếu như ở Venezuela, tổng thống Hugo Chavez không mất; nền kinh tế chính trị ổn định; giá dầu trên thế giới từ 80 USD trở lên thì chắc chắn dự án liên doanh của PVN với PVDSA sẽ trở thành một điểm sáng trong đầu tư ra nước ngoài và không biết lúc ấy chúng ta phải trả ơn ông Hugo như thế nào?
Về Dự án Juni 2 hiện nay, phải khẳng định là : Dự án vẫn còn đó, quyền của Việt Nam vẫn còn; việc khai thác chỉ là Tạm Dừng bởi các biến động về chính trị ở Venezuela...Nói “ mất trắng”, nói “ thất thoát” là không đúng, là cách chửi cho sướng miệng, cho thỏa mãn khoái cảm được “ chửi” của mình.
Trong nghề khai thác dầu khí, sự rủi ro của người này có khi mang lại may mắn cho người khác. Việt Nam cũng vậy, chúng ta đã từng mua lại một giàn khoan đang khai thác với giá 1 USD do công ty nước ngoài khai thác không hiệu quả đã bỏ. Rồi các nhà khoa học của Tập đoàn Dầu khí đã tìm cách mở rộng mỏ, khoan thăm dò thêm, trong mấy năm nay, mỗi ngày mỏ đó cho gần 8.000 thùng dầu.
Hoặc mới đây, dự án Biển Đông 01 vừa kỷ niệm 10 năm khai thác khí và dầu ở cụm mỏ Hải Thạch – Mộc Tinh. Dự án này vốn của BP, họ đã mất 9 năm thăm dò, đổ vào đây 500 triệu USD mà không được gì. Cuối cùng họ ra đi và giao lại hồ sơ cho Tập đoàn. Tập đoàn Dầu khí quyết tâm làm, Chính phủ quyết tâm làm và bây giờ, mỗi ngày khu mỏ này nộp cho đất nước gần 2 triệu USD.
Một dự án khai thác dầu khí thường mất thời gian như sau :
-Mất 2 đến 3 năm khảo sat, thăm dò địa chấn, minh giải bản đồ địa chất và khoan thăm dò.
-Khoan thăm dò nếu có dầu thì phải khoan thẩm lượng, đánh giá tiềm năng, trữ lượng…Mất khoảng 2 năm.
- Mất 2-3 năm thiết kế mỏ, xây dựng giàn, lắp đăt...
Và nếu khai thác tốt, mọi việc diễn ra đúng kế hoạch, giá dầu ổn...thì sau 10 năm khai thác, sẽ có... đồng tiền dương!
Chính vì sự rủi ro này, về đầu tiên quá lớn này mà không một Tập đoàn kinh tế tư nhân nào của Vn dám tự bỏ tiền ra đitìm kiếm- thăm dò và khai thác.( Gần đây, mới có Tập đoàn Bitexco đã góp tiền vào một liên doanh khai thác dầu ở mỏ Cá Tầm)
Có thể dẫn chứng ra rất nhiều chuyện “quái quỷ” về nghề thăm dò khai thác dầu khí. Và trong nghề này, khoa học kỹ thuật, công nghệ là quan trọng, nhưng nếu không có yếu tố may mắn thì tài giỏi mấy cũng bằng không.
(Còn tiếp : Về cái gọi là “ tiền thưởng” và " Tại sao không thông qua Quốc Hội)
- Chú thích ảnh : Thằng tôi gặp người đã bắt tên Trung tá Mỹ để đòi thả Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi.
-Một góc thủ đô Caracas
- Trên giàn khoan PVD 39 ở lô Juni2
( Tiếp theo kỳ trước)

Tại sao Dự án Juni 2 không thông qua Quốc hội?

Tôi đồ rằng tất cả những người vừa rồi đã cao giọng trên báo chí và mạng xã hội phê phán, bình luận, móc máy và đặt câu hỏi rằng tại sao dự án Junin 2 không có sự phê duyệt của Quốc hội nhưng vẫn làm, là do họ không có tài liệu. Độc ác hơn nữa, có những tài liệu họ chỉ trích dẫn câu trước mà không nói đến câu sau, dẫn đến dư luận đã hiểu sai về quy trình, thủ tục trong dự án này.
Vậy dự án Junin 2 đã được thực hiện như thế nào?
Nếu viết một cách tường tận, tỉ mỉ thì tốn rất nhiều trang giấy. Nay tôi chỉ xin gạch đầu dòng những diễn biến chính để mọi người thấy.
Tại văn bản số 5743/BKH-ĐTNN của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 18/8/2010 đã nêu rất rõ, tóm tắt như sau:
-Dự án Junin 2 được triển khai trên cơ sở chương trình hợp tác liên Chính phủ giữa CH XHCN Việt Nam và CH Boliva Venezuela và Hiệp định Hợp tác trong Lĩnh vực Năng lượng giữa Chính phủ 2 nước ký ngày 21/7/2006 nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Venezuela Hugo Chavez.
- Trên cơ sở Hiệp định này, ngày 06/10/2006, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã cùng với PDVSA ký 6 văn bản thỏa thuận, hợp tác trong lĩnh vực dầu khí. Trong đó có dự án khai thác và nâng cấp dầu nặng lô Junin 2.
- Ngày 31/5/2007, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sang thăm Venezuela và trước sự chứng kiến của Tổng bí thư và Tổng thống Hugo Chavez, PVN và PDVSA đã ký Dự ước thư (ROI) thành lập Công ty liên doanh Junin 2.
- Ngày 15/6/2007, Thủ tướng Chính phủ đã có công văn 773 đồng ý về nguyên tắc cho phép PVN đàm phán với PDVSA thành lập Công ty khai thác và nâng cấp dầu nặng tại lô Junin 2.
- Sau hơn 2 năm khảo sát, điều tra, nghiên cứu tài liệu, PVN/PVEP đã lập Báo cáo khai thác và nâng cấp dầu nặng lô Junin 2 và trình Thủ tướng xem xét tại công văn 8393 ngày 12/11/2008.
- Ngày 17/11/2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì họp thẩm định báo cáo của PVN với sự tham gia của Văn phòng Chính phủ, Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Ngày 18/11/2008, sau khi họp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có công văn 8460 trình Thủ tướng xin phê duyệt Báo cáo đầu tư khai thác và nâng cấp dầu nặng lô Junin 2 với tổng mức đầu tư ban đầu 1 tỷ 241 triệu USD và Chính phủ đã có công văn 1995 phê duyệt báo cáo này.
- Ngày 20/11/2008, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sang thăm Venezuela. PVEP cùng PDVSA đã ký bản ghi nhớ (MOU) và ký tắt Hợp đồng Thành lập và Quản lý Công ty liên danh khai thác và nâng cấp dầu nặng Junin 2.
Trên cơ sở ý kiến của Thủ tướng tại công văn 1995, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài của dự án. Tuy nhiên, do vướng mắc ghi tổng vốn đầu tư nước ngoài là ngoài 1 tỷ 281 triệu USD, còn phải thêm 584 triệu USD tiền phí tham gia dự án, hay còn gọi là “hoa hồng dự án”. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã họp các Bộ ngành lại và ý kiến thống nhất là ghi tổng mức đầu tư đầy đủ (bao gồm cả tiền phí dự án) là 1 tỷ 825 triệu USD. Nhưng với mức đầu tư của dự án lớn thế này thì dự án thuộc quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội theo Nghị quyết 66/2006/QH11. Cũng phải nói thêm, Venezuela cũng phải đưa dự án này ra Quốc hội và đã được phê chuẩn.
- Vì vậy, Bộ Kế hoạch có văn bản 553 ngày 15/1/2009 báo cáo Thủ tướng về việc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án là của Quốc hội và kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội có đặc cách với dự án để sớm cấp phép đầu tư cho dự án Junin 2.
- Ngày 25/3/2009, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có văn bản số 203 yêu cầu Chính phủ có tờ trình chính thức gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án này, trong đó làm rõ phần vốn nhà nước góp vào dự án và trường hợp sử dụng 30% vốn Nhà nước trở lên thì Chính phủ phải trình Quốc hội xem xét.
- Ngày 17/5/2009, Chính phủ có báo cáo số 83, theo đó, dự án này không thuộc dự án phải báo cáo Quốc hội xem xét vì phần góp vốn chủ sở hữu của PVN đã giảm xuống chỉ còn 547 triệu USD (tức chỉ còn 29,9% tổng chi phí góp vốn). Do vậy, Chính phủ báo cáo để Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát thực hiện.
- Ngày 12/10/2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có công văn 7795 gửi Thủ tướng đề nghị có văn bản quyết định tổng vốn đầu tư của dự án là 1 tỷ 825 triệu USD và giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận cho dự án.
- Ngày 18/6/2010, Thủ tướng Chính phủ có công văn 19/TTG đồng ý cho PVN ký hợp đồng thành lập và quản lý công ty liên doanh lô Junin 2 và giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư theo quy định hiện hành.
- Ngày 24/6/2010, Văn phòng Chính phủ có công văn 4407 đồng ý với đề xuất của PVN tại công văn 5540 báo cáo bổ sung về dự án Junin 2.
- Ngày 29/6/2010, dưới sự chứng kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, hợp đồng thành lập và quản lý công ty liên doanh khai thác và nâng cấp dầu nặng lô Junin 2 (PETROMACAREO) được ký kết. Trên cơ sở hợp đồng nêu trên, PVEP đã bổ sung và hoàn thiện hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầu tư.
- Ngày 5/8/2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có công văn 5414 gửi PVN yêu cầu PVN hoàn tất hồ sơ dự án theo quy định tại Nghị quyết 49/2010/QH12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội về dự án công trình quan trọng của quốc gia. Để Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư để thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư theo quy định (theo đúng như chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ theo công văn 19/TTG ngày 18/6/2010).
Với tất cả sự cẩn trọng cần thiết và theo quy định của pháp luật, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có những nhận xét về dự án lo ngại về dự án có thể gặp các khó khăn bởi yếu tố rủi ro ở thị trường Venezuela và cần phải được cân nhắc thận trọng, đặc biệt là dự án được đầu tư bằng vốn Nhà nước và vốn vay của doanh nghiệp.
Tại văn bản này, sau khi khẳng định văn bản này phải được Quốc hội thông qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phân tích nếu trình Quốc hội thông qua thì mất 60 ngày. Như vậy không đủ thời gian để trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp cuối năm 2010 mà phải lùi sang kỳ họp đầu năm 2011, và việc cấp giấy chứng nhận đầu tư phải lùi hơn 6 tháng nữa. Và nếu như vậy, theo phía Venezuela, nhà đầu tư Việt Nam sẽ vi phạm hợp đồng và thỏa thuận về phí tham gia hợp đồng và sẽ bị xử lý theo những cam kết đã ký; trong đó có một điều cực kỳ quan trọng là nếu chậm thanh toán phí tham gia hợp đồng thì toàn bộ cổ phần PVEP trong công ty liên doanh có thể tự động chuyển cho phía Venezuela.
Chính vì vậy, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã kiến nghị Thủ tướng quyết định 1 trong 2 phương án:
-Phương án 1: Thủ tướng Chính phủ báo cáo Bộ Chính trị xin chủ trương trình Quốc hội có cơ chế đặc cách xem xét thông qua chủ trương đầu tư đối với dự án Junin 2 của PVN ngay trong kỳ họp Quốc hội tháng 10/2010.
-Phương án 2: Trên cơ sở nhận xét tình hình thực tế và các vướng mắc, khó khăn trong triển khai dự án, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị Thủ tướng Chính phủ có báo cáo trình Bộ Chính trị quyết định việc cấp giấy chứng nhận đầu tư cho dự án.
Trên cơ sở những đánh giá và kiến nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 1/10/2010, Ban Cán sự Đảng Chính phủ đã có báo cáo gửi Bộ Chính trị về tình hình triển khai dự án Junin 2.
Sau khi báo cáo hết tiến trình thực hiện dự án cũng như những thuận lợi, khó khăn và vướng mắc về thủ tục pháp lý, tài chính của phía Việt Nam, báo cáo của Ban Cán sự Đảng Chính phủ đã khẳng định dự án này thuộc diện dự án phải trình Quốc hội xem xét. Nhưng nếu chờ Quốc hội xem xét vào giữa năm 2011 thì việc thanh toán phí tham gia hợp đồng sẽ trục trặc (đợt đầu tiên phải thanh toán 300 triệu USD do chưa có giấy chứng nhận đầu tư). Như vậy PVN sẽ bị coi là vi phạm và cổ phần của PVEP sẽ được chuyển giao cho PDVSA đồng thời gây ra nhiều hệ lụy khác trong quan hệ đối ngoại và hợp tác.
Ban Cán sự Chính phủ cũng đánh giá: “Việc ký hợp đồng thành lập và quản lý Công ty liên doanh tại lô Junin 2 có ý nghĩa quan trọng mang tính chiến lược trong việc thực hiện chiến lược pháp triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025 đã được Bộ chính trị chấp thuận và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hợp đồng được ký là kết quả của sự chỉ đạo sát sao và sự hỗ trợ có hiệu quả của Đảng, Nhà nước, Chính phủ từ chủ trương, đường lối đến các bước đi cụ thể; có sự phối hợp trong công tác của các Bộ ngành liên quan, đặc biệt là sự cố gắng nỗ lực cao của Tập đoàn Dầu khí”.
Vì vậy Ban Cán sự Đảng Chính phủ đề nghị Bộ Chính trị xem xét cho phép Tập đoàn Dầu khí Việt Nam được tiếp tục triển khai dự án Junin 2 và chấp thuận cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài trước ngày 29/10/2010. Và Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội về các nội dung của dự án theo nghị quyết 49.”
- Ngày 25/10/2010, ông Trương Tấn Sang - Thường trực Ban Bí thư đã có thông báo ý kiến của Bộ Chính trị sau khi lấy ý kiến tham gia bằng văn bản của các Ủy viên Bộ Chính trị thì Bộ Chính trị đã quyết định: Đồng ý với đề nghị của Ban Cán sự Đảng Chính phủ về việc cấp giấy phép chứng nhận đầu tư ra nước ngoài đối với dự án Junin 2 và đồng thời báo cáo Quốc hội về các nội dung của dự án này để thực hiện việc giám sát như đối với các dự án công trình quan trọng của quốc gia theo nghị quyết 49/2010/QH12.
Với những gì tôi đã liệt kê ở trên, chúng ta thấy rằng dự án này đã được tiến hành với những quyết tâm cao nhất của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, và hoàn toàn tuân thủ theo đúng các quy định pháp lý của VN. Việc phải xin Bộ Chính trị quyết định là đúng nguyên tắc .
Còn việc sau này dự án hoạt động chưa hiệu quả và bây giờ phải tạm dừng là những nguyên nhân bất khả kháng.
Một lần nữa, tôi cũng muốn khẳng định rằng dự án này hiện nay PVN vẫn còn quyền ở đây. Nói dự án “mất trắng tiền” là không đúng, những ai đã từng làm trong dầu khí đều biết rằng, một dự án lớn như thế này có thể kéo dài 25-35 năm hoặc đến 40 năm. Điều này cần phải có sự nhìn nhận, đánh giá đúng mức và đặc biệt phải tính đến sự “dài hơi” của dự án.
Không ai mong muốn khi đầu tư ra nước ngoài, tiền đã rót vào mà chưa được gì. Ngành nghề nào cũng vậy, đều có sự rủi ro và đặc biệt, đối với dầu khí là ngành siêu lợi nhuận thì đi kèm cũng là siêu rủi ro. Còn với những ý kiến cho rằng Bộ Chính trị, Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư của nhiệm kỳ đó đã làm việc không cẩn trọng, đã không lường trước được tình hình biến động của Venezuela, thậm chí “ngồi xổm lên pháp luật”, thiết nghĩ đó là những suy nghĩ ác ý.
Tôi xin có 2 kiến nghị thế này:
Thứ nhất, các cơ quan thẩm quyền của nhà nước nên công bố công khai toàn bộ về dự án để người dân hiểu. Đồng thời để thể hiện rõ mối quan hệ của chúng ta với chính phủ Venezuela trước đây, hiện nay và trong tương lai.
Thứ hai, cũng cần điều tra, xác minh làm rõ những phát ngôn nào là ai là người trong Bộ Chính trị không đồng ý; ai là người phát ngôn “ép tôi phải ký”...
Còn với những ý kiến cho rằng “không lường trước được biến động về địa chính trị ở Venezuela” và đổ lỗi rằng do sự yếu kém của Bộ Chính trị thì đây là những suy nghĩ nực cười.
Nếu như để tránh những điều này, với những dự án đầu tư trong nước và nước ngoài, có khi phải lập một đội ngũ thầy bói để xem bói, thậm chí là cầu đảo...cho… Thành công!!!
( Còn tiếp : Hiểu thế nào về " tiền thưởng" ở dự án Juni 2)
Chú thích ảnh : Hai kiến nghị của Bộ KH&ĐT về dự án Juni 2

Về “tiền hoa hồng” ở dự án Junin 2, cần phải hiểu thế nào?
Tôi cũng định để ngày mai sẽ đưa kỳ cuối cùng về dự án Juni 2… Bởi lẽ đưa dồn dập, bài lại dài, sợ bạn đọc “ khó theo dõi”. Nhưng thấy trên một tờ báo lại vẫn có người cao giọng phán rằng “ đó là thủ thuật để tránh ngưỡng phải trình dự án ra Quốc hội xem xét. Đồng thời, nó cho thấy sự thiếu minh bạch của dự án này”…Mà kỳ lạ , vị này cũng là quan chức có cỡ ( dĩ nhiên là đã hưu), vậy mà không chịu tìm hiểu, không chịu xem xét thấu đáo, cứ phán lung tung.
Cũng thời gian qua, nhiều tờ báo và cả trên mạng xã hội đã nói về việc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chi “tiền thưởng” cho PDVSA là một khoản tiền “đầy sự mờ ám”. Và họ cho rằng dầu chưa khai thác lên mà đã chi tiền thưởng là điều vô lý; rồi thậm chí khẳng định rằng “có sự khuất tất gì ở đây”.
Chính vì thế, mà thấy cần phải giải thích luôn về cái gọi là “ Tiền hoa hồng” này.
Về việc này, có lẽ tất cả mọi người đã hiểu sai về khoản tiền gọi là “Participant Bonus” hoặc cũng có nơi dùng từ “Signature Bonus”. Nếu hiểu theo nghĩa thô thiển, chữ Bonus nghĩa là tiền thưởng thì không sai. Nhưng nếu theo các hợp đồng dầu khí thì hoàn toàn khác.
Theo từ ngữ của các Hợp đồng Dầu khí thì khoản tiền này là khoản tiền mà nhà đầu tư phải trả cho nước chủ nhà khi ký hợp đồng dầu khí. Có thể giải thích một cách nôm na rằng, khoản tiền này giống như tiền ta đi mua hồ sơ thầu, giá trị của khoản tiền này nhiều hay ít tùy thuộc vào giá trị tổng thể của gói hợp đồng. Có nghĩa là khi PDVSA giao tài liệu cho ta thì ta phải trả tiền, và khoản tiền này cũng như một loại tiền đặt cọc để buộc tham gia dự án. Đây là một thông lệ bình thường ở quốc tế.
Các công ty nước ngoài vào Việt Nam khai thác dầu cũng phải trả khoản tiền này. Ví dụ, BHP (Anh) đã phải trả quyền khai thác ở mỏ Đại Hùng 90 triệu USD, hoặc khi chúng ta liên doanh với phía Nga khai thác dầu ở mỏ Nhenhetxky thì cũng phải trả phí tham gia hợp đồng gần 100 triệu USD.
Còn ở Venezuela, năm 2010, Nga cũng phải chi cho PDVSA 1 tỷ USD tiền phí tham gia hợp đồng để khai thác ở lô Ayacutcho 2,3. Trung Quốc cũng đã chi 1 tỷ USD cho cái gọi là “ Hoa hồng chữ ký”…Để được quyền khai thác ở các lô Juni 3, 4 .
Do cách hiểu và cách dịch có khác nhau nên người không hiểu về dầu khí dễ nghĩ đây là tiền hoa hồng, tiền “lại quả”. Việc thanh toán khoản phí này cũng theo luật dầu khí của Venezuela mà không thể làm khác được. Trong dự án Junin 2, khoản tiền phí tham gia dự án này của PVN là 584 triệu đô và sau khi ký Hợp đồng, phải chuyển ngay 300 triệu đô theo quy định của Luật Dầu khí Venezuela. Mà Luật Dầu khí Venezuela cực kỳ khắt khe, và “ sang chảnh”, bởi Venezuela quá nhiều dầu, nên nhiều công ty khai thác dầu mỏ đổ xô đến…Vì thế, Venezuela không bao giờ phải đi xin xỏ, quỵ lụy ai, mà ngược lại, chỉ có người khác đến cầu cạnh.
Hợp đồng đã ký, bất luận là do ý chí của lãnh đạo tối cao hay của ai, nếu chậm trả tiền theo thỏa thuận thì họ … tự động hủy hợp đồng, và chuyển cổ phần liên doanh sang nơi khác, mà không cần thông báo, xin ý kiến.
Vì vậy, không thể nào có chuyện chúng ta chuyển tiền cho Venezuela rồi họ lại cắt xén, chia chác, lại quả với nhà đầu tư Việt Nam.
Sự thật về chuyện tiền thưởng chỉ là như vậy! Những ai muốn hiểu về những khoản tiền thưởng này xin chịu khó hỏi “ông Guc-gồ” sẽ thấy ngay.
Cũng nói thêm là. trong dự án này Bộ Chính trị, Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật, không hề có một sự “du di” nào.
Nếu gọi là có sự “du di” thì đó chỉ là dự án này, Việt Nam có được là do tình cảm đặc biệt của Tổng thống Hugo Chavez và của nhân dân Venezuela dành cho Việt Nam. Một điều nữa, sau khi ký hợp tác liên doanh giữa PVEP và PVDSA thì dự án này đã được Quốc hội Venezuela thông qua. Và một khi dự án được Quốc hội Venezuela thông qua thì bất luận thời thế thay đổi thế nào, ai lên nắm quyền thì đều phải tôn trọng và thực hiện đúng những điều Quốc hội đã quy định.
Thậm chí Quốc hội Venezuela quyết định nếu dự án Juni 2 chưa đạt hiệu quả kinh tế cao thì Quốc hội sẽ kéo dài thời gian thực hiện dự án cho phía Việt Nam. Sau khi ông Hugo Chavez mất, Tổng thống Nicolás Maduro lên nắm quyền. Khi sang thăm hữu nghị chính thức Việt Nam, ông cũng đã chia sẻ với những khó khăn mà Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đang gặp phải khi thực hiện dự án Junin 2. Và chính phủ Venezuela sẵn sàng cho Việt Nam lựa chọn một lô khác nếu Việt Nam thấy thuận lợi hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn.
Khai thác dầu khí là như vậy, sự rủi ro đến mà không ai có thể lường trước được! Cũng như chúng ta đây, không ai dám đảm bảo rằng ngày mai, ngày kia sẽ gặp phải những rủi ro gì trong cuộc sống.
Còn về cái gọi là “ tiền hoa hồng” chỉ là có vậy.
Các cụ xưa để lại câu “ ăn có nhai, nói có nghĩ” và “ uốn lưỡi bảy lần rồi hãy nói” – Thiết nghĩ, những ai cố tình muốn hiểu sai về dự án này, và lợi dụng sự rủi ro, bất khả kháng của dự án Juni 2 này để phục vụ cho ý đồ cá nhân, thì cũng nên biết nghĩ.
P.V


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

The Azerbaijan Soviet Socialist Republic 1987

The Azerbaijan Soviet Socialist Republic 1987: Photos, Culture, Economy, History & more -- Socialist Republics of the Soviet Union...